Cây Ổi – Giá trị dinh dưỡng và dược tính.

Người Việt miền Nam Việt Nam, nhất là những người sinh sống trong vùng Châu thổ sông Cửu Long hoặc qua lại những bến phà Mỹ Thuận, Cần Thơ.. (Ngày Xưa) không thể nào quên nổi một trái cây thân yêu : đó là trái ổi, nhất là
ổi xá lị, mùi thơm vị ngọt, đặc biệt rất ít hạt.. Với dân nhậu chỉ cần vài lát ổi hay xoài chấm với mắm ruốc..là đủ đi bay vài xị đế…
Ổi cũng theo chân người Việt trên bước đường tha hương, nhưng ổi tại Hoa Kỳ (tuy ổi có nguồn gốc tại Châu Mỹ) lại không hẵn là những trái ổi ngày xưa…

Tên khoa học và các tên thông thường :

Tên khoa học : Psidium guajava thuộc họ thực vật Myrtaceae.
Các tên thông thường : Guava (Anh-Mỹ); Goyave (Pháp) ; Guayabana (Mỹ); Goiaba (Brazil).

Tên Psidium do tiếng Hy lạp psidion = quả lựu để mô tả quả có nhiều hạt nhỏ giống như quả cây lựu. Guajava phát xuất từ tên gọi tại Haiti ‘guaya vu‘ và tên Anh ngữ cũng từ đó mà ra.

Lịch sử và Đặc tính thực vật :

Ổi được xem là có nguồn gốc tại Peru và Brazil (hiện vẫn là nơi trồng nhiều ổi nhất thế giới), sau đó trở thành cây thương mại quan trọng tại Hawaii, Úc, Ấn Độ, Mexico và các nước Đông Nam Á. Tại Mỹ, ổi được trồng nhiều nhất tại các Tiểu bang Florida và California…

Ổi đã được thuần hóa tại Peru từ hàng ngàn năm trước (có thể từ năm 800 trước Tây lịch). Các khai quật khảo cổ tại các cổ mộ đã tìm thấy hạt ổi tồn trữ chung với hạt đậu, bắp và bầu bí. Tại vùng Amazon, ổi được chim và khỉ mang hạt ổi  đi khắp nơi, tạo những rừng ổi, có những bụi cao đến 20m (trong khi ổi trồng, chỉ ở mức 10 m cao).

Người Âu châu biết đến ổi khi họ đặt chân đến Haiti và dùng ngay tên gọi của dân Haiti để chỉ trái cây ngon ngọt này. Các thủy thủ Tây ban Nha và Bồ Đào Nha đã đem cây đi khắp nơi. Ổi có lẽ chỉ đến Hawaii vào đầu thế kỹ 18 và sau đó đến các hải đảo trong Thái Bình Dương.

Có khoảng 100 loài psidium, mọc thành bụi hay tiểu mộc. Loài được trồng rộng rãi nhất là P. guajava. Ngoài ra loài P. guineense (ổi Brazil) được cho lai tạo với P. guajava để cho loài ổi có khả năng chịu đựng thời tiết lạnh, cho trái tuy nhỏ nhưng lại nhiều hơn. Một số loài đáng chú ý như P.littorale var.littorale (yellow strawberry guava) cho trái tương đối lớn, ngọt, vàng ; loài P.littorale var. longipes (red strawberry guava) cho trái màu đỏ tím, có vị dâu tây..lemon guavared strawberry guava

Psidium guajava (guava, yellow guava, apple guava) thu?c lo?i cây trung bình cao 5-10m. Thân có vỏ nhẵn, mỏng, khi già bong từng mãng, màu nâu đỏ. Cành khi non hình vuông có nhiều lông mềm, khi già hình trụ và nhẵn. Lá mọc đối, hình trái xoan hay thuôn, dài chừng 15 cm rộng 3-6 cm, phía gốc có thể tù hay hơi tròn, gân lá nổi rõ ở mặt dưới và phủ một lớp lông mịn. Cuống lá ngắn chừng 3-5 mm. Hoa màu trắng, đường kính chừng 2.5 cm, có nhiều nhị, có thể mọc đơn độc hay từ 2-3 hoa thành cụm ở nách lá. Hoa nở vào đầu mùa hè. Quả mọng, hình cầu hay dạng quả lê, dài đến 10 cm, chứa rất nhiều hạt nhỏ. Đài hoa còn tồn tại trên quả. Cây bắt đầu cho quả sau 2 năm tuổi.

Một số chủng được trồng tại Hoa Kỳ như :
– ‘Beaumont’ : gốc từ Oahu (Hawaii) quả tròn, to, thịt màu hồng nhạt, vị hơi chua.
– ‘ Red Indian’, gốc từ Florida-1945 : quả vàng nhạt, rất thơm, thịt hồng nhạt khá ngọt.

Một số chủng khác, được đưa từ các nước nhiệt đới vào Hoa Kỳ như :
– Hong Kong Pink’: Trái cở trung bình, thịt màu hồng nhạt.
– Indonesian Seedless’ Trái to, nhiều nước, thịt trắng, chắc khá ngon, ít hạt, có lẽ là ổi xá lị tại Việt Nam.

Psidium littorale var. longipes = P. cattleianum (purple strawberry guava, mọc cao chừng 7m, thân có vỏ mịn và láng; Lá tròn. Hoa trắng mọc đơn độc. Quả nhỏ chừng 2.5- 4 cm, lúc non màu đỏ nhạt sau đó chuyển dần sang đỏ-tím và đen khi chín hẳn, có mùi rất thơm, thịt trắng, vị vừa chua vừa ngọt như dâu tây. Loài lai tạo ‘lucidum’ cho trái màu vàng.

strawberryguavaGuayaba-fresa
Ngoài những giống ổi trồng lấy quả ăn, làm mứt hay nước giải khát còn có những giống đặc biệt trồng làm cây cảnh như ổi tàu hay ổi lùn Psidium pumila, cũng có nguồn gốc từ Trung Mỹ, thuộc loài tiểu mộc, cao 2-4 m nhưng thường làm cho nhỏ lại để trồng trong chậu cảnh. Thân mềm, dễ uốn, vỏ thân mỏng, bong từng mảng. Cành phân nhánh dài, mạnh. Lá nhỏ, thuôn dài màu xanh bóng, mềm; mép lá nhăn nheo như gợn sóng; gân lá nổi rõ. Cuống lá tuy ngắn nhưng làm lá rũ. Hoa nhỏ màu trắng, mọc đơn độc ở nách lá, có 5 cánh tràng mềm và dễ rụng, rất nhiều nhị. Quả hình cầu, hiếm gặp.

Thành phần dinh dưỡng của quả :

100 gram phần ăn được chứa :
– Calories                              36-50
– Chất đạm                           0.9-1.0 g
– Chất béo                             0.1-0.5 g
– Chất sơ                               2.8-5.5 g
– Calcium                              9.1- 17 mg
– Sắt                                       0.30-0.70 mg
– Magnesium                       10-25 mg
– Phosphorus                        17.8 -30 mg
– Potassium                           284 mg
-Sodium                                 3 mg
-Kẽm                                       0.230 mg
– Đồng                                     0.103 mg
-Manganese                           0.144 mg
-Beta Carotene (A)                 200-792 IU
-Thiamine (B1)                      0.046 mg
-Riboflavine (B2)                  0.03-0.04 mg
-Niacin                                    0.6-1.068 mg
-Pantothenic acid                  0.150 mg
-Pyridoxine                             0.143 mg
-Ascorbic acid (C)                  100-500 mg.

Quả ổi được xem như một trái cây bổ dưỡng, nguồn cung cấp các vitamin A và C (tùy giống 100 gram có thể cho đến 1 gram Vitamin C), đa số vitamin tập trung trong phần thịt sát với lớp vỏ mỏng bên ngoài quả. Ổi được dùng ăn sống hay làm thành bánh nhão (custard), kem và nước giải khát, thạch jelly. Tại vùng Châu Mỹ Latin có món tráng miệng
thông dụng Cascos de guayaba làm bằng trái ổi, bổ đôi, bỏ ruột, nấu chín, trộn chung với cream cheese.

Cascos-de-guayaba

Thành phần hóa học :

Tùy bộ phận, thành phần hóa học có thể thay đổi :

1- chứa:
– Tanins (7-10%) gồm gallotannins, ellagic acid và các chất chuyển hóa, các tannins có thể thủy giải được.
– Tinh dầu (0.31%) trong đó có aromadendrene, beta-bisabolene, caryophyllene, nerolidiol, selinene, dl limonene, các alcohol thơm..
– Các acid hữu cơ như: mastinic acid, oleanolic acid, oxalic acid, guaija volic acid, guajanoic acid, crategolic acid, psidiolic acid..ursolic acid
– Sterols như beta-sitosterol..
– Flavonoids như Quercetin
( trong lá non và búp có khoảng 7-10% tanins loại pyrogallic và 3% nhựa).

2- Hoa chứa ellagic acid, guaijaverin, leucocyanidin, oleic acid, quercetin.

3- Quả (ngoài thành phần dinh dưỡng, còn có)
– Các đường hữu cơ (7%) như Fructose, glucose, galactose, sucrose..
– Các tinh dầu tạo mùi thơm thuộc các nhóm aldehyd và alcohol như ethyl acetate, butyrate, humulene, myrcene, pinene..cinnamic acid
– Các acid hữu cơ.
– Các sắc tố loại chlorophyll, anthocyanidin.
– Pectins, pectin methylesterase.

4- Rễ và vỏ thân có arjunolic acid, gallic acid, leucocyanidin, quercetin..

Các nghiên cứu khoa học và dược học :

Đa số các nghiên cứu khoa học và dược học được thực hiện tại các Viện khảo cứu, các Trường Đại Học tại Nam Mỹ. Tại Á Châu, Thái Lan là quốc gia chú trọng nhiều nhất về dược tính của ổi.

– Tác dụng trị tiêu chảy:

Tác dụng trị tiêu chảy của lá ổi đã được công nhận trong nhiều nghiên cứu lâm sàng, dược học. Lá ổi được chính thức ghi trong Dược Điển Hòa Lan, dùng làm thuốc trị tiêu chảy :
Trong một nghiên cứu lâm sàng về tác dụng trị tiêu chảy nơi 62 trẻ em bị tiêu chảy, sưng ruột do siêu vi (rotaviral enteritis), thời gian lành bệnh ghi nhận là 3 ngày (87.1%), rút ngắn tương đối rõ rệt so với nhóm đối chứng (Zhongguo Zhong Xi Jie He Za Zhi Số 20-2000).

Nghiên cứu khác tại ĐH Universade Feral do Rio de Janeiro (Ba Tây) ghi nhận liều nước chiết từ lá ổi 8 microgram /ml có hoạt tính chống lại simian rota virus gây tiêu chảy (82.2%) (Journal of Ethnopharmacology Số 99-2005).

Một nghiên cứu , mù đôi , thực hiện tại Thái Lan , dùng bột lá ổi so sánh với tetracycline để trị 122 người tiêu chảy (64 nam, 58 nữ) tuổi 16-55. Liều dùng cho bột lá ổi và tetracycline là 500 mg, mỗi 6 giờ trong 3 ngày. Kết quả tương đương cho cả 2 nhóm dùng bột lá ổi và tetracycline (Thử nghiệm T-test có kết quả tương đương) (Thai Medicinal Plants trang 206).
Trên PubMed có liệt kê khá nhiều nghiên cứu về tác dụng trị tiêu chảy của lá ổi..

– Tác dụng trị bệnh đường ruột :

Ổi còn có một số đặc tính dược học giúp bổ xung cho tác dụng trị tiêu chảy. Các flavonoids loại quercetin trong lá có hoạt tính trên sự bài tiết acetylcholine trong ruột (theo kiểu morphine), kích thích cơ trơn ruột. Hoạt tính này do ở tác động của quercetin ngăn chặn các ions Calcium và ức chế các enzyme liên hệ đến sự tổng hợp prostaglandins, giúp giảm những cơn đau bụng do cơ trơn của ruột co thắt. Ngoài ra lá ổi còn tác động vào sự tái-hợp thu nước nơi ruột. Các lectins trong lá ổi có thể gắn vào E. coli (vi khuẩn thường gây ra tiêu chảy), ngăn chặn vi khuẩn hấp thu vào vách trong của ruột và do đó ngăn ngừa được sự nhiễm trùng ruột.

– Tác dụng kháng sinh, kháng siêu vi và diệt nấm gây bệnh :

Hoạt tính kháng vi trùng của lá ổi được liệt kê trong Fitoterapia Số 73-2002.

Một nghiên cứu tại University of Petra, Amman (Jordanie) ghi nhận tác dụng ngăn chặn sự phát triển các mụn trứng cá, gây ra bởi các vi khuẩn loại Propionibacterium acnes. Hoạt tính được so sánh với dầu tràm (tea tree oil), doxycyclineclindamycin, và dùng phương pháp đo vùng ức chế bằng dĩa tẩm hoạt chất (disk diffusion method). Vùng ức chế của dịch chiết lá ổi được xác định là 15.8-17.6 mm (kháng P. acnes) và 11.3-15.7 mm (kháng S.aureus).. Tuy không bằng các thuốc trụ sinh doxycycline clindamycin, nhưng có thể hữu dụng trong các trường hợp bị mụn trứng cá và không dùng được kháng sinh (American Journal of Chinese Medicine Số 33-2005).

Tác dụng trên Hệ Tim Mạch :

Nghiên cứu tại ĐH Universidade Federal de Sergipe, Sao Cristovao (Ba Tây) ghi nhận dịch chiết từ lá ổi có nhiều hoạt tính trên hệ Tim mạch và có thể hữu dụng để trị các trường hợp Tim loạn nhịp (Brazilian Journal of Medecìne & Biological Reseach Số 36-2003). Lá ổi có tác dụng ‘kháng oxy-hóa có lợi cho tim, bảo vệ tim, và cải thiện các chức năng của tim. Trong 2 thử nghiệm, không chọn trước đối tượng, tại Viện Nghiên cứu Tim Mạch, ghi nhận việc dùng mỗi ngày 450 gram ổi tươi trong 12 tuần liên tục, giúp hạ huyết áp trung bình là 8 điểm. giảm được mức độ cholesterol 9%, giảm triglycerides được 8% và tăng HDL được 8%.

Hoạt tính được cho là do ổi chứa nhiều potassium và nhiều chất sơ có thể tan được (tuy nhiên số lượng ổi cần ăn hằng ngày lên tới 450-900 gram và cần ăn liên tục..nên khó có thể theo đuổii việc trị liệu !)

Tác dụng Hạ đường trong máu :

Nghiên cứu tại Korea Research Institute of Bioscience and Biotechno logy, Daejeon (Nam Triều Tiên) ghi nhận hoạt tính ức chế men protein tyrosine phosphatase 1B (PTP1B) của dịch chiết lá ổi. Hoạt tính này cho thấy nước lá ổi có tác dụng trị tiểu đường loại 2 (khi thử trên chuột loại Lepr(db), liều 10 mg/kg gây hạ glucose trong máu khá rõ rệt) (Journal of Ethnopharmacology Số 96-2005).

Trong một nghiên cứu tại Taiwan trên chuột, nước ép từ quả tươi chích qua màng phúc toan với liều 1.0g/kg giúp làm hạ đường trong máu tạo ra bởi alloxan. Hoạt tính hạ đường này không kéo dài và yếu hơn chlorpropamide , metformin rất nhiều,  nhưng ăn ổi tươi cũng có thể hữu ích cho người tiểu đường (American Journal of Chinese Medicine Số 11-1983).

Nghiên cứu tại ĐH Putra, Malaysia trên chuột về tác dụng làm hạ glucose trong máu của quả ổi : 40 chuột đực được chia thành 4 nhóm trong đó có các nhóm : đối chứng không bệnh, đối chứng bị gây tiểu đường, nhóm dùng nước ổi và nhóm trị bằng glibenclamide. Thử nghiệm kéo dài trong 5 tuần. 3 nhóm chuột bị gây tiểu đường bằng streptozotocin. Trong thời gian thử nghiệm, các nhóm đối chứng chỉ được cho ăn bình thường; nhóm bệnh tiểu đường dùng ổi được cho ăn thêm mỗi ngày 0.517 g ổi, nhóm tiểu đường dùng glibenclamide 5mg/kg mỗi ngày. Kết quả cho thấy có sự giảm hạ nồng độ glucose trong máu nơi chuột dùng ổi từ các tuần 3 (12.3%), tuần 4 (24.79%) và tuần 5 (7.9%) so với nhóm đối chứng. So sánh với nhóm dùng thuốc glibenclamide, tác dụng trung bình tương đối khác biệt ở tuần 4 (p=0.029), nồng độ glucose trong máu thay đổi 25.88 %.

Các tác giả kết luận : Ổi tươi , chứa lượng cao các chất sơ (hòa tan và không hòa tan) có thể giúp hạ tiểu đường một cách an toàn.. (Asia Pacific Journal of Clinical Nutrition Sô 13 (Suppl)-2004).

Các phương thức sử dụng trong dân gian :

Các thành phần của cây ổi như lá, rễ, vỏ thân được sử dụng khá phổ biến làm thuốc tại nhiều nơi trên thế giới, kể cả Việt Nam.
Tại Việt Nam : Theo Y học dân gian, ổi có vị chát, hơi ngọt, tính bình. Các phần dùng làm thuốc gồm lá, vỏ thân , thu hái và phơi nắng cho khô, cất giữ để dùng khi cần. Thường dùng 15-30 gram lá dưới dạng thuốc sắc. Ổi có tác dụng thu liễm (làm săn da), cầm tiêu chảy, chống sưng tấy và cầm máu; Ổi được dùng để trị các chứng đau bụng, tiêu chảy do tiêu hóa yếu, sưng ruột, kiết lỵ do nhiễm trùng (có thể dùng lá đã phơi khô, tán thành bột hay sắc lá tươi lấy nước uống). Ổi còn được dùng trị chấn thương, ngứa ngoài da (giã nhuyễn lá tươi, đắp lên vết thương). Một phương thức trị zona( giòi ăn) là lấy 100 g lá búp non, trộn với 10 g phèn chua, 1 g muối, giã nát chung, thêm nước vừa đủ thành khối nhão, thoa ngoài.

Tại Ấn Độ : Theo Y học Ayurvedic, ổi hay Amrud, (tiếng Phạn= Mansala) : Vỏ cành dùng trị tiêu chảy, đau bụng, đau bao tử; Lá để trị ho và lỡ trong miệng. Quả, sau khi bỏ hạt, có tác dụng nhuận trường.

Tại Trung Hoa : Y học cổ truyền không xem ổi là vị thuốc, nhưng tùy địa phương, việc dùng ổi trị bịnh cũng khá phổ biến. Ổi được gôi là Phan thạch lựu.(Fan Shi liu) hay Phan Đào(Fan-tao) (Phan= từ ngoại quốc đến).
* Lá ổi được xem là có tính bình, vị ngọt; dùng để ngừa kiết lỵ, trị tiêu chảy bằng cách đun 50 g lá tươi trong 250 ml nước đun sôi, uống trong ngày chia làm nhiều lần. Khi bị thương, nhai vài lá ổi tươi, đắp để cầm máu.
* Quả ổi được xem là có tính ấm, vị ngọt; dùng trị tiêu chảy, tiểu đường và trĩ.

Để trị tiểu đường : xay 90 g ổi tươi bằng blender, lấy nước cốt, uống ngày 3 lần trước bửa ăn.
Để trị Trĩ : Đun 500 g trái tươi với 1 lít nước, đến khi cô đặc, thoa và rữa búi trĩ mỗi ngày 2-3 lần. Có thể dùng phương thức này để trị ngứa ngoài da.

– Tại Thái Lan :Ổi hay Farang, Chumpo cũng được dùng để trị tiêu chảy (Búp lá non được sao đến vàng, rồi sắc lấy nước uống, Quả non cắt thành lát, nấu lấy nước uống). Ngoài ra lá được dùng để che bớt mùi rượu, trị sưng lợi, vết thương lâu lành..

– Tại các quốc gia Trung và Nam Mỹ: như Brazil, Peru, Cuba.. Thổ dân đã dùng nước sắc từ lá hay vỏ thân để trị tiêu chảy, xúc miệng trị đau cổ họng và điều hòa kinh nguyệt. Lá tươi dùng nhai khi chảy máu nơi chân răng, hơi thở khó chịu. Lá còn dùng nấu lấy nước giúp vệ sinh phụ khoa, trị huyết trắng và giúp làm săn chắc vách bộ phận sinh dục sau khi sanh nở. Hoa nghiền nát, đắp trị đau mắt, chói nắng..

Ghi chú :
Nơi các Chợ Thực phẩm Hoa Kỳ có bán những trái cây, cũng gọi là Guava, hình dạng rất giống với ổi, cũng lớn cỡ 2.5-7.5 cm đường kính, còn gọi là Pineapple guava hay Feijoas. Trái này không liên hệ đến nhóm ổi, tuy cùng gia đình thực vật Myrtaceae.
Cây Feijoa, tên khoa học Feijoa sellowiana cho quả, khác với ổi ở chổ thịt nhão như thạch (xu-xoa), không cứng chắc nên phải ăn bằng cách xúc bằng muỗng. Feijoa cũng phát xuất từ Nam Mỹ và đặc biệt là cũng như Kiwi, phát triển tốt nhất tại Tân Tây Lan. Feijoa được trồng nhiều tại California và tuy chứa nhiều Vitamin C, Feijoa không có các tính chất trị liệu như ổi.

Tài liệu sử dụng :
The Oxford Companion to Food (Alan Davidson).
Fruits as Medioine (Dai Yin-Fang & Liu Cheng-jun).
Uncommon Fruits & Vegetables (Elizabeth Schneider).
Encyclopedia of Herbs (Deni Brown).
Thuốc Nam Trên đất Mỹ (Tập 2).
Tự Điểnn Cây Thuốc Việt Nam (Võ văn Chi).
Thai Medicinal Plants (Farnsworth & Bunyapraphatsara).
Tropical Plant Database (Rain-Tree Nutrition Co).

Chia sẽ bài viết qua:
  •  
  •  
  •  
  •   
  •   
  •  
  •   
  •  
  •  

Trả lời

Name *
Email *
Website