Dưa hấu, chúa tể của các loại dưa trong mùa hè

Dưa hấu vốn có quê hương ở Châu Phi. Do giống dừa này được đưa sang Trung Quốc từ phía Tây Vực nên người Trung Quốc gọi là “dưa Tây”.
Dưa hấu ngọt, nhiều nước, mát bổ, được coi là thứ trái giải khát quý giá. Từ phần thịt bên trong cho đến cùi vỏ đều có tác dụng phòng bịnh chữa bịnh. Dân gian đã có câu “Ngày hè ăn 3 miếng dưa hấu, thuốc thang các loại không cần tới (?)”. Một nhà y học nổi tiếng đời Thanh từng viết trong cuốn “Tùy tức cư ẩm thực phổ” (thức đơn ăn uống theo tịnh dưỡng nghỉ ngơi): “Dưa hấu ngọt lạnh, giã rượu, chữa viêm hầu họng, lở miệng, trị độc nhiệt…”. Có thể thấy tác dụng chữa bịnh nhất định của dưa hấu đối với các chứng phế nhiệt, vị nhiệt, cảm nóng, sốt cao, tâm phiền miệng khát, sưng
hầu họng, viêm niêm mạc miệng, đi tiểu nước đỏ, viêm thận, phù thũng, say rượu…

canh dong dua hau

Y học hiện đại qua nghiên cứu đã chứng minh rằng chất đường, muối, axit hữu cơ trong dưa hấu có tác dụng chữa trị viêm thận và làm hạ huyết áp; vì lượng đừng thích hợp làm lợi tiểu, lượng muối kali làm tiêu viêm thận, chất men trong dưa hấu có khả năng chuyển hóa protein không hòa tan thành protein hòa tan, tăng cường dinh dưỡng cho bịnh nhân viêm thận; loai đường tổng hợp trong dưa hấu còn có tác dụng hạ huyết áp.

Vỏ dưa hấu vị ngọt tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, giáng hỏa, trừ phiền, chữa thấp, lợi tiểu tiện. Vào mùa thu, khí hậu hanh khô, dễ viêm họng và lở miệng lưỡi, việc ăn dưa hấu cũng có công hiệu nhất định.

Việc pha chế dưa hấu thành dạng kem dùng ngoài da có thể chữa viêm sưng họng, lở mép rất tốt.

Ngoài ra, hạt dưa hấu có công hiệu làm mát phổi, tan đờm, nhuận tràng, lợi tiêu hóa. Rễ và lá dưa hấu vào mùa hè chữa được bịnh tiêu chảy, kiết lỵ.

Tuy dưa hấu là thứ giải khát tốt, nhưng không nên ăn quá nhiều trong một lần, nhất là đối với những người tỳ vị hư  hàn.dua hau vang

Những bài thuốc chữa bịnh bằng dưa hấu:

  • Viêm thận: Vỏ dưa hấu, rễ cỏ tranh: mỗi thứ 60 gam, sắc uống.
  • Phù thũng: Vỏ dưa hấu, vo bí đao, đậu đỏ, phục linh, mỗi loại 30 gam, sắc uống.
  • Cao huyết áp: Vỏ dưa hấu 30 gam, vỏ bí đao 30 gam, ngưu tất 15 gam, sắc uống.
  • Cảm nóng: Nước ép dưa hấu một cốc to, uống vài lần.
  • Đau họng: Xịt kem dưa hấu vào chổ họng đau.
  • Giải rượu: Nước ép dưa hấu một cốc to, uống vài lần.
  • Đái tháo đường: Vỏ dưa hấu 60 gam, câu kỷ tử 15 gam, thiên hoa phấn 12 gam, ô mai 10 gam, sắc uống.
  • Kiết lỵ ra máu: Nước ép dưa hấu 1 cốc, hòa đường đỏ, ngày uống 3 lần.
  • Lở loét miệng: Dùng kem dưa hấu bôi.
  • Chữa bỏng: Vỏ dưa hấu sấy khô, tán thành bột, trộn dầu mè (vừng) bôi.
Ô mai
Ô mai

Đọc thêm:

Phục linh

Phục linh – Poria cocos (Schw.) Wolf., thuộc họ Nấm lỗ – Polyporaceae.

Mô tả: Nấm mọc hoại sinh trên rễ cây thông. Quả thể hình khối to, có thể nặng tới 5kg nhỏ cũng có thể bằng nắm tay, mặt ngoài màu xám đen, nhăn nheo có khi hình bướu, cắt ngang sẽ thấy mặt lổn nhổn màu trắng hoặc hồng xám có khi có rễ thông ở giữa nấm.  

PhucLinh

Bộ phận dùng: Quả thể nấm – Poria, thường gọi là Phục linh.

Thường người ta phân biệt loại màu trắng gọi là Bạch linh, loại hồng xám gọi là Phục linh, loại có rễ thông đâm xuyên giữa gọi là Phục thần.

Nơi sống và thu hái: Cây mọc trong rừng có thông, nằm sâu dưới một lớp đất mặt 20-30cm. Thường phát triển ở vùng núi hướng về phía mặt trời, khí hậu ấm áp, thoáng, độ cao trung bình, không bị gió bấc thổi, chất đất cát mịn tơi xốp. Ðã tìm thấy ở Hà Giang, Thanh Hoá, Lâm Ðồng, Gia Lai. Ðang nghiên cứu trồng ở Sapa, Tam Ðảo. Thu hoạch nấm vào tháng 10-11 sau tiết lập thu. Khi đào lên, người ta ngâm nước một ngày, rửa sạch, gọt bỏ vỏ, đồ lên, thái mỏng 2-3mm, phơi hay sấy khô. Khi dùng thì sắc với thuốc thang.

Thành phần hóa học: Trong quả thể Phục linh có acid pachymic, acid tumulosic, acid eburicoic, acid pinicolic, pachyman.

Tính vị, tác dụng: Vị ngọt, nhạt, tính bình; có tác dụng lợi thủy thẩm thấp, kiện tỳ, định tâm.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ðược dùng làm thuốc bổ, thuốc lợi tiểu, chữa thủy thũng, đầy trướng, ỉa chảy, tỳ hư ít ăn. Còn dùng làm thuốc trấn tĩnh, an thần phách, chữa các chứng sợ lửa, mất ngủ, di tinh. Liều dùng 9-15g, dạng thuốc sắc, thuốc bột hay thuốc viên. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.

Đơn thuốc:

  1. Chữa tim yếu hay hồi hộp, sợ hãi, ngủ không yên, hay quên, mất trí, tinh thần suy nhược, ăn uống kém sút, rũ mỏi thích nằm; Phục thần, Ðẳng sâm, Liên nhục, Long nhãn, Ðại táo, đều 16g; Táo nhân sao, Viễn chí, Xương bồ đều 8g, sắc uống, hay tán bột, viên với mật ong, uống mỗi ngày 10-12g.
  2. Chữa phù thũng mắt, mặt, chân tay đều phù, bụng trướng. Vỏ Phục linh, vỏ Quýt cũ (Trần bì), vỏ quả Cau, vỏ rễ Dâu, vỏ Gừng sống, mỗi vị 15-20g hoặc thêm vỏ cây Dướng, Mộc thông bằng các vị trên cùng sắc uống (Nam dược thần hiệu).

(nguồn từ http://www.lrc-hueuni.edu.vn)

Cây ngưu tất

Hiện ta đang trồng giống ngưu tất di thực của Trung Quốc có rễ to hơn cây cỏ xước mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Có thể tìm loại cỏ xước ở nước ta dùng làm ngưu tất được. Rễ đào về rửa sạch, phơi hoậc sấy khô.

Còn có tên là cây cỏ xước, hoài ngưu tất.

Tên khoa học Achyranthes hidentata Blume.

Thuộc họ Giền Amaranthaceae.

Ta dùng rễ phơi hay sấy khô- Radix Achyranthis bidentatae- của cây ngưu tất.

Sách cổ nói: vị thuốc giống đầu gối con trâu nên gọi là ngưu tất (ngưu là trâu, tất là đầu gối).

Mô tả cây

 

Cây ngưu tất

Cây ngưu tất là một 10ại cỏ xước cho nên người ta nhầm với cây cỏ xước Achyranthes aspera L. Cỏ có thân mảnh, hơi vuông, thường chỉ cao 1m, cũng có khi tới 2m. Lá mọc đối có cuống, dài 5-12cm, rộng 2-4cm, phiến lá hình trứng, đầu nhọn, mép nguyên. Cụm hoa mọc thành bông ở đầu cành hoặc kẽ lá.

Phân bố, thu hái và chế biến

Hiện ta đang trồng giống ngưu tất di thực của Trung Quốc có rễ to hơn cây cỏ xước mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Có thể tìm loại cỏ xước ở nước ta dùng làm ngưu tất được. Rễ đào về rửa sạch, phơi hoậc sấy khô.

Thành phẩn hoá học

Trong rễ ngưu tất người ta chiết xuất ra một chất saponin, khi thuỷ phân sẽ cho axit oleanic và galactoza, rhamnoza, glucoza. Ngoài ra còn có ecdysteron, inokosteron và muối kali.

Tác dụng dược lý

Trương Diệu Đức, Trương Phát Sơ và Lưu Thiệu Quang (1935, Trung Hoa y học tạp chí) đã dùng cao lỏng ngưu tất tiến hành 90 thí nghiệm trên tử cung cô lập của thỏ, chuột bạch, mèo và chó (có chửa hoặc không có chửa) đi tới kết luận sau đây:

Cao lỏng ngưu tất có tác dụng làm dịu sức căng của tử cung chuột bạch (có chửa hay không có chửa cũng vậy).

Đối với tử cung của thỏ có chửa hay không, đều phát sinh tác dụng co bóp.

Cao lỏng ngưu tất có tác dùng làm dịu tử cung của mèo không có chửa nhưng đối với tử cung của mèo có chửa lại có tác dùng co bóp mạnh hơn.

Đối với tử cung của chó có chửa hay không có chửa, cao lỏng ngưu tất khi thì gây co bóp, khi thì gây dịu, tác dùng không nhất định, hoặc lúc đầu gây co bóp về sau có tác dụng dịu.

Tác dụng của cao lỏng ngưu tất có lẽ do tác dụng trực tiếp kích thích dây thần kinh phía dưới bụng.

Theo Kinh Lợi Bân, Viện nghiên cứu quốc lập Bắc Kinh, Sà nghiên cứu sinh lý học (1937) thì ngưu tất có tác dụng như sau:

Đối với động vật đã gây mê, ngưu tất có thể gây giảm huyết áp tạm thời, sau vài phút trở lại bình thường nhưng sau lại hơi tăng.

Ngưu tất có tác dụng làm yếu sức co bóp của tim ếch.

Ngưu tất có tác dụng ức chế sự co bóp của khúc tá tràng.

Ngưu tất hơi có tác dụng làm lợi tiểu.

Liều cao, ngưu tất có tác dụng kích thích sự vận động của tử cung.

Chất saponin của ngưu tất có tác dụng phá huyết và làm cho vón anbumín (albumin).

Ecdysteron và inokosteron có tác dụng làm kìm hãm sự phát triển của một số sâu bọ.

Đoàn Thị Nhu phát hiện ngưu tất có tác dụng hạ cholesterol trong máu và tác dụng hạ huyết áp.

Công dụng và liều dùng

Tính vị theo đông y: V chua, đắng, bình, không độc, vào hai kinh can và thận. Có tác dụng phá huyết, hành ứ (sống), bổ can thận, mạnh gân cốt (chế biến chín).

Trong nhân dân, ngưu tất được dùng trong bệnh viêm khớp, đau bụng, kinh nguyệt khó khăn.

Ngày dùng 3-9g dưới dạng thuốc sắc.

Người có thai không được dùng.

Viên ngưu tất (0,25 cao khô)hoặc thuốc ống (4g ngưu tất khô/ống) chữa bệnh cholesterol máu cao, huyết áp cao, vữa xơ động mạch. Ngày uống hai lần, mỗi lần 5viên hoặc một ống sau bữa ăn. Dùng liền 1-2 tháng lại nghỉ.

Chú thích:

Hồng căn thảo là một loại ngưu tất có thân lá và rễ đỏ cùng loài Achyranthes bìdentata Blume.

Ta còn dùng loại cỏ xước cũng gọi là ngưu tắt Achyranthes aspera L. cùng một công dụng. (nguồn từ http://www.dieutri.vn/)

Câu kỷ tử (vị thuốc quý trị chứng di mộng tinh)

Câu kỷ tử
Câu kỷ tử còn gọi là Câu khởi, khởi tử là một vị thuốc bổ, rất tốt cho sức khỏe. Ngoài ra kỷ tử còn có tác dụng trị di mộng tinh và giúp giảm cân ở người béo phì.

Tên khác

  • Kỷ tử còn có tên là Câu khởi, khởi tử, địa cốt tử, câu kỷ tử
  • Câu kỷ tử hay kỷ tử là quả chín phơi khô của cây khởi tử.

Tên khoa học

Lycium sinense Mill., thuộc họ Cà Solanaceae.

Mô tả cây thuốc

Cây khởi tử là dạng cây nhỏ, chỉ cao từ 0,5 đến 1,5m. Hoa có màu tím đỏ. Quả mọng, hình trứng, khi chín có màu tím đỏ hay vàng đỏ. (Xem hình ảnh cây kỷ tử để thấy rõ hơn)

Bộ phận dùng:

  • Quả của cây Khởi tử (Kỷ tử) chính là bộ phận chủ yếu được dùng làm thuốc của cây thuốc này. Ngoài ra Lá, cỏ cây và rễ cùng đều được dùng làm thuốc:
  • Lá (rau khởi) dùng nấu canh chữa ho, sốt.
  • Vỏ và rễ cây khởi tử phơi khô còn gọi là “Địa cối bì” 

Nơi sống và thu hái:

Cây khởi tử là loài cây thuốc mọc nhiều ở các quốc gia Châu Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản. Trước đây quả của cây Khởi tử (kỷ tử) ta thường phải nhập của Trung Quốc. Nhưng một vài năm gần đây nước ta đã bắt đầu trồng để lấy quả làm thuốc. Cây được trồng bằng hình thức gieo hạt hoặc dâm cành. Sau 3 năm có thể thu hoạch được. Quả được hái vào tháng 8 đến tháng 10 hàng năm. Theo kinh nghiệm của những nhà vườn, trồng cây khởi tử thì cứ 1ha sai quả có thể cho thu hoạch được 1,5 tấn quả.

Thành phần hóa học:

  • Các nhà khoa học đã tìm thấy trong thân và rễ cây Khởi tử có 0.08% ancalioit, 1.7% saponin.
  • Trong 100g quả có 3.96mg coroten, 150mg canxi, 6.7mgP, 3.4mg sắt, 3mg Vitamin C, 1.7mg axit nicotinic, 0.23mg amon sunfat.

Hoa cây khởi tử

Hình ảnh hoa cây khởi tử

quả Câu kỷ tử

Quả cây khởi tử – Câu kỷ tử

cau ky tu

Vị thuốc câu kỷ tử

Kỷ tử chữa bệnh gì ? Tác dụng của câu kỷ tử.

Kỷ tử là một vị thuốc bổ, được sử dụng trong các trường hợp sau: Bệnh nhân mắc đái thái đường (Thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác), dùng cho các trường hợp bệnh nhân mắc ho lao, viêm phổi, mệt nhọc, gầy yếu, béo phì, bổ tinh khí và giúp trẻ lâu.

Theo tài liệu cổ: Kỷ tử có vị ngọt, tính bình vào 3 kinh: Phế, can và thận, nhuận phế táo, mạnh gân cốt. Dùng cho các bệnh nhân mắc chứng chân tay tê mỏi, mắt mờ, di mộng tinh.

Kỷ tử giúp tăng cân ở người gầy yếu đồng thời giúp giảm cân ở người béo phì. Tác dụng này có được là do cơ chế hoạt động của vị thuốc này là điều hòa sự hấp thu, điều hòa các chức năng trong cơ thể giúp cho người gầy hấp thu tốt hơn, đồng thời làm giải phòng năng lượng, giảm sự tích tụ chất béo ở người béo phì do vậy giúp cho người tăng cân béo phì giảm cân hiệu quả.

Đối tượng sử dụng:

  • Người mắc bệnh di tinh, mộng tinh
  • Bệnh nhân Tiểu đường
  • Người gầy yếu xanh sao dùng để bồi bổ
  • Người mắc các bệnh về phổi và đường hô hấp
  • Người già mắc chứng: Mắt mờ, chân tay tê mỏi
  • Người bị táo bón
  • Người thừa cân, béo phì, béo bụng, phụ nữ sau sinh

Hướng dẫn cách dùng Kỷ tử làm thuốc

1. Liều dùng hàng ngày: 20-25g dưới dạng thuốc sắc (Cách dùng trên giúp giảm béo rất hiệu quả)

2. Cách ngâm rượu kỷ tử:

a. Ngâm độc vị kỷ tử

  • Kỷ tử: ………… 600g
  • Rượu trắng: …. 2 lít
  • Ngâm trong hai tuần trở lên. Ngày dùng 2-3 chén trong mỗi bữa ăn sẽ có tác dụng bồi bổ cơ thể

b. Ngâm phối hợp nhiều vị

Có thể ngâm phối hợp nhiều vị cùng với kỷ tử trong bài Rượu anh hùng tửu như sau:

Thành phần :

  1. Sơn thù ………….. 150 g
  2. Cẩu tích ………….. 150 g
  3. Đương quy ……… 150 g
  4. Kỷ tử ………………. 150 g
  5. Thỏ ty tử …………. 150 g
  6. Nhân sâm ……….. 150 g
  7. Mạch môn ………. 300 g
  8. Tắc kè ……………. 5 đôi
  9. Rượu trắng ……… 10 Lít

3. Đơn thuốc có vị kỷ tử cho bệnh nhân mắc Di mộng tinh

  • Thành phần: Kỷ tử 6g, sinh khương 2g, nhục thung dung 2g
  • Cách dùng: Sắc với 600ml nước, sắc cạn còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.

Ngoài vị thuốc câu kỷ tử trên, còn có một vị Kỷ tử khác đó là Kỷ tử quả đen

Câu kỷ tử quả đen

Câu kỷ tử quả đen

Câu kỷ tử quả đen

Câu kỷ quả đen còn gọi là Khủ khởi, Rau khởi – Lycium ruthenicum Murr., thuộc họ Cà – Solanaceae.

Mô tả:

Cây nhỡ, cao 120-150cm, thường có màu trắng, cành nhiều nhỏ, Có gai do nhánh biến thành. Lá chụm 4-6 trên nhánh ngắn, phiến lá hình bầu dục, mép nguyên, không lông, xanh đậm; cuống dài 4-6mm. Hoa mọc đơn độc hay thành đôi ở mỗi nhánh ngắn, cuống dài 10-12mm; đài 4-5mm; 5 răng tràng đỏ có sọc đậm, có ống dài bằng tai. 5-7mm, tai có rìa lông; nhị 5; bầu 2 ô. Quả mọng, tròn, khi chín màu đen. Ra hoa quanh năm.

Bộ phận dùng:

Lá – Folium Lycii Ruthenici

Nơi sống và thu hái:

Cây trồng lấy lá nấu canh và làm thuốc. Trồng bằng cành hoặc hạt vào mùa xuân.

Công dụng, chỉ định và phối hợp:

Lá dùng nấu canh; có thể dùng chữa ho. Ở Ấn Độ, người ta dùng cây chế thuốc mỡ trị chứng mù mắt cho lạc đà.

(Nguồn từ http://caythuoc.org/)

THIÊN HOA PHẤN 天花粉
TÊN GỌI KHÁC: Qua lâu căn, Rễ Dưa trời, Dưa núi…
TÊN KHOA HỌC: Radix trichosantes
thien-hoa-phan

-Mô tả: Thiên hoa phấn là rễ cây Qua lâu. Nên chọn rễ to, chắc, nặng, khi phơi khô ngoài vỏ có màu vàng ngà, thái lát trong ruột thịt trắng nhiều bột như cát căn, không mốc mọt là tốt. Ngày dùng: 12 – 16g.

-Xuất xứ: Thiên hoa phấn có mọc nhiều ở các tỉnh vùng núi như Cao Bằng, Bắc cạn và Ninh Thuận, Bình Thuận.

-TVQK: Vị ngọt, tính hàn. Vào kinh Phế, Vị và Đại trường.

-Công dụng chữa trị: Sinh tân dịch, chỉ khát, nhuận táo, giảm đau. Chủ trị:  sốt nóng, đái tháo đường, miệng khô, khát nước, đoản hơi, hoàng đản, lở ngứa, sưng tấy, trĩ rò vv.

THÀNH PHẦN HÓA HỌC: Chủ yếu có chứa tinh bột, chất nhầy, chất trichosanthin (loại protein kiềm). vv…

PHƯƠNG THIÊN HOA PHẤN CHỦ TRỊ:

   – Trị tiêu khát (đái tháo đường): Cam thảo 8g, Cát căn 16g, Mạch môn 16g, Ngũ vị tử 16g, Sinh địa 30g, Thiên hoa phấn 30g. Tán bột, Mỗi lần dùng 10g, thêm Gạo tẻ 100 hột. Sắc uống. Tác dụng: Sinh tân, chỉ khát. (Thiên Hoa Tán – Nhân Trai Trực Chỉ Phương Luận)

   – Trị tiêu khát mà uống nhiều, người gầy ốm: Đương quy 16g, Hoàng liên 30g, Phục linh 16g, Thiên hoa phấn 16g. Tán bột, làm hoàn. Ngày uống 12 – 16g với nước sắc Mao căn. Tác dụng: Thanh nhiệt, sinh tân. (Thiên Hoa Phấn Hoàn – Nhân Trai Trực Chỉ Phương).

   – Chữa tiêu khát (tiểu đường) Sinh địa 30g, Hoài sơn 20g, Đơn bì, Sơn thù, Thiên hoa phấn đều 14g, Trạch tả 10g, Phục linh, Mạch môn, Hoàng kỳ đều 12. Sắc uống ngày một thang. (Kinh Nghiệm Dân Gian).

   – Chữa quai bị: Thiên hoa phấn 8g, Thạch cao 16g, Ngưu bàng, Cát căn, mỗi vị 12g, Thăng ma, Liên kiều, Hoàng cầm, Cát cánh, mỗi vị 8g, Sài hồ, Cam thảo, mỗi vị 4g. Sắc uống ngày 1 thang. (Kinh Nghiệm Dân Gian).

   – Chữa tắc sữa: Thiên hoa phấn, Sài hồ, Đương quy, Xuyên sơn giáp, mỗi vị 8g, Bạch thược 12g, Thanh bì, Cát cánh, Thông thảo, mỗi vị 6g. Sắc uống. (Kinh Nghiệm Dân Gian).

   – Chữa viêm amidan mạn tính: Thiên hoa phấn, Sơn thù, Đơn bì, Trạch tả, Phục linh, Tri mẫu, Địa cốt bì, mỗi vị 8g, Sinh địa 16g, Hoài sơn, Huyền sâm, Ngưu tất, mỗi vị 12g, Xạ Can 6g. Sắc uống ngày 1 thang. (Kinh Nghiệm Dân Gian).

PHẦN THAM KHẢO:

   – Gần đây, một số nhà khoa học Pháp, Trung Quốc đã công bố, chất trichosanthin và karasurin trong Thiên hoa phấn có tác dụng chống khối u, điều hoà miễn dịch và có khả năng ức chế nhiễm virut HIV.

KIÊNG KỴ: Không dùng trong trường hợp Tỳ Vị hư hàn.

(Nguồn từ http://dongyminhphuc.com/)

Chia sẽ bài viết qua:
  •  
  •  
  •  
  •   
  •   
  •  
  •   
  •  
  •  

Trả lời

Name *
Email *
Website